Nước Iran đầu thế kỉ XIX (phần 1)

Ba Tư là một trong những nước lớn ở Tây Nam châu Á. Vào thời trung đại, quốc gia này bao gồm phần lãnh thổ Iran ngày nay và các vùng khác của Cápcadơ, một phần Cápca, một phần Trung Á và miền Tây Ápganixtan. Cư dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp, chăn nuôi và thủ công nghiệp. Nông dân không có ruộng đất, phải lĩnh canh hay làm thuê cho địa chủ và chỉ hưởng 1/3 – 1/5 hoa lợi. Đạo Hồi có vai trở quan trọng trong đởi sống xã hội với những quy định rất nghiêm ngặt của toà án tôn giáo. Các nước thực dân phương Tây sớm tranh nhau chiếm Ba Tư – vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quân sự.

Sự xâm nhập của các nước lu bản thực dân cùng với ách thống trị, bóc lột của phong kiến làm cho nhân dân lao động vô cùng khổ cực. Đó là nguyên nhân làm bùng nổ các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến, đế quốc.

Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây

Đầu thế kỉ XVIII, quốc gia phong kiến Ba Tư trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng, tạo điều kiện cho các nước ngoài nhiều lần xâm lấn.

Năm 1722, quân đội Ápganixtan tiến vào thủ đô Ba Tư và đánh chiếm nhiều nơi khác trong nước. Nhân dân Ba Tư đã kháng chiến anh dũng đuổi quân xâm lược ra khỏi biên giới.

Trong những năm 30 – 40 của thế kỉ XVIII và tiếp đó vào đầu thế kỉ XIX, Ba Tư phải đương đầu với các cuộc xâm lược của Nga hoàng Piôt I, của quân đội Thổ Nhĩ Kì và Ápganixtan. Sau khi đánh thắng Iran trong hai cuộc chiến tranh (1804 – 1813, và 1820 – 1828), Nga hoàng buộc Iran phải cắt vùng đất Ghêoócghi cho Nga, Nga có hạm đội ở Hắc Hải, nộp thuế hàng nhập khẩu vào Iran chỉ có 5%.

Nước Iran đầu thế kỉ XIX-p1

Đồng thời nhà nước phong kiến Ba Tư cũng tiến hành nhiều cuộc viễn chinh sang An Độ (1739 – 1741), sang lãnh thổ đế quốc Ottoman (1737 – 1738 và 1741 – 1743).

Những cuộc chiên tranh liên miên làm cho kinh tế sa sút, nhân dân nghèo khổ vì mất mùa, thuế mất, nòn liên tiếp nổi dậy đấu tranh. Đến cuối thế kỉ XVIII, dê quốc Ba Tư tan vỡ và có lãnh thổ như ngày nay. Tình hình này là điều kiện thuận lợi cho các nước tư bản phương Tây nhởm ngó và tiến hành âm mưu xâm chiếm.

Từ cuối thế kỉ XVIII, các nước phương Tây chú ý nhiều đến Ba Tư vì đây là vị trí chiến lược quân sự, là con đưởng buôn bán thuận lợi, đất nước giàu tài nguyên và là thị trường lớn tiêu thụ hàng hoá. Cho đến lúc bấy giở, Ba Tư mới chịu ảnh hưởng của Nga chứ chưa phải là nước thuộc địa, phụ thuộc của một nước tư bản phương Tây. Vì vậy, trong việc chạy đua xâm chiếm nước này, nhằm ngăn cản sự bành trướng của Nga, các nước đế quốc phương Tây đởi được hưởng những quyền ưu đãi về thương mại, tự do buôn bán, lập các thương điếm có lực lượng vũ trang bảo vệ ở Ba Tư.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lich su the gioi can dai

Nước Iran đầu thế kỉ XIX (phần 2)

Sự suy yếu của chế độ phong kiến Ba Tư và nhu cầu mở rộng thị trường đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây là nhũng nguyên nhân thúc đẩy các nước thực dân tăng cưởng hơn nữa xâm nhập vào Ba Tư. Vì vậy, trên lãnh thổ Ba Tư đã diễn ra nhiều cuộc tranh giành, các cuộc xung đột vũ trang gay gắt giữa các nước thực dân, trước hết và chủ yếu là giữa Anh, Pháp và Nga.

Đầu thế kỉ XIX, cuộc chiến tranh giữa Pháp và liên minh các nước chống Napôlêông (1805 – 1812) cũng nhằm đến một mục tiêu là đánh chiếm Ba Tư. Tiếp đó, cuộc chiến tranh Nga – Thổ (1826 – 1827) và mâu thuẫn Anh – Nga đều có liên quan đến việc làm chủ Ba Tư.

Dần dần, Anh chiếm được ưu thế ở Ba Tư. Năm 1841, Anh kí với Ba Tư hiệp ước bất bình đẳng, hưởng quyền lãnh sự tài phán và tự do mua bán, không phải trả thuế quan trong nội địa mà chỉ nộp không quá 5% thuế quan đối với hàng hoá Anh nhập vào Ba Tư. Tiếp đó, từ năm 1845, Ba Tư phải kí với Pháp, Áo, Mĩ và những nước châu Âu khác những hiệp ước bất bình đẳng.

Nước Iran đầu thế kỉ XIX-p2

Việc xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây làm cho Ba Tư trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá nước ngoài, chủ yếu của Anh. Từ1827 – 1831, hàng dệt của Anh nhập vào Ba Tư tăng 2,5 lần, chiếm 9/10 hàng nhập của Ba Tư và từ 1833 – 1837, số hàng này lại tăng gấp đôi. Hàng nước ngoài tràn vào khiến cho nghề thủ công cổ truyền bị phá sản, đẩy nông dân, thợ thủ công, dân nghèo vào canh khốn khổ hơn, khiến họ càng căm phẫn, nổi lan đấu tranh mạnh mẽ.

Trong các cuộc dấu Iranh của các dân tộc trong đế quốc Ba Tư nổi lên phong trào Babít.

Phong trào Babít (1844 – 1852)

Vào cuối những năm 40 của thế kỉ XIX, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân tự phát nổ ra ở khắp nơi. Phần lớn các cuộc đấu tranh này đều do các giáo phái lãnh đạo. Một trong những giáo phái có ảnh hưởng lớn nhất là giáo phái của những tín đổ Babít, do Ali Môhamét đứng đầu.

Ali Môhamét, sinh năm 1820 trong một gia đình thương nhân và bản thân cũng làm nghềbuôn vải.

Nam 1 844, Ali Môhamét tự xưng là Báp (theo tiếng Ba Tư, Báp có nghĩa là “ngưỡng cửa”) ngụ ý rằng, qua Báp mà Chúa cứu thế (Mahơdi) truyén ý chí của mình dến mọi người. Ống cho rằng Thượng đê sắp xuống trẩn để cứu mọi người và lẠp một “vương quốc chính nghĩa” trên Trái đất(l). Vì vậy, năm 1847, Ali Môhamét lại tự xem mình cũng là Mahơdi. Ông bị bắt vào tư và ớ dAy, ông biên soạn quyển giáo lí “Bêian” để truyền đạo cho tín đồ. Đây dược xem như bộ thánh kinh mới, thay cho bộ kinh cũ. Tất cả chế độ và pháp luật sẽ được soạn thảo theo “Bêian”.


Các nước Châu Á nửa đầu thế kỉ XIX – Phần 17

Về đối ngoại, lúc đầu để tranh thủ người nước ngoài “trung lập” trong cuộc đấu tranh giữa Thái bình Thiên quốc và triều đình Mãn Thanh, Thái bình Thiên quốc chủ trương “người ngoại quốc” được coi như anh em từ xa đến”, “được tự do đi lại, buôn bán”, song kiên quyết không thừa nhộn điều – ước Nam Kinh 1842 và các điều ước khác mà Mãn Thanh đãkí với nước ngoài. Trên thực tế, các nước tư bản thực dân đã cấu kết với triều đình Mãn Thanh đàn áp cuộc khởi nghĩa này của nông dân.

Cuộc khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc tồn tại được gần 14 năm (1851 – 1864), lan rộng trong 18 tỉnh Trung Quốc, đã xây dựng được một nhà nước và thi hành nhiều biện pháp tiến bộ. Song phong trào ngày càng suy yếu, triều đình Mãn Thanh được các nước đế quốc ủng hộ, đánh bại Thái bình Thiên quốc.

Thái bình Thiên quốc là một trong những cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, đã tập hợp được đông đảo nhân dân chống phong kiến, rồi chống cả thực dân xâm lược. Thái bình Thiên quốc đã xây dựng được một nhà nước tiến bộ, đáp ứng được một phần không nhỏ quyền lợi và nguyện vọng cơ bản của nhân dân lao động mà nông dân chiếm số đông.

Các nước Châu Á nửa đầu XIX–P17

Cuộc khởi nghĩa nông dân Thái bình Thiên quốc thất bại vì tình hình lịch sử xã hội Trung Quốc vào giữa thế kỉ XIX chưa có điều kiện cho sự thắng lợi của phong trào đấu tranh. Sự cấu kết giữa chính quyền Mãn Thanh và các thế lực thực dân xâm lược cũng là những nguyên nhân dẫn tới sự thất bại củaThái bình Thiên quốc. Tuy nhiên, những hạn chế, thiếu sót của bản thấn phong trào Thái bình Thiên quốc là nguyên nhân chủ quan, quan trọng làm cho nó suy yếu: tính không tưởng, tư tưởng bình quân, sự chia rẽ nội bộ, sự phản bội của những địa chủ, quý tộc tham giaphong trào.

Tuy thất bại, cuộc khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc có ý nghĩa lịch sử lớn. Nó làm suy yếu chế độ phong kiến chuyên chế, khơi dậy cuộc đấu tranh của nhân dân, góp phần xây dựng truyền thống chống phong kiến, chống xâm lược của nhân dân Trung Quốc. Đồng thời, Thái bình Thiên quốc cũng góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân châu Á chống sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa tư bản phương Tây.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lịch sử thế giới cận đại

Các nước Châu Á nửa đầu thế kỉ XIX – Phần 16

-   Giai đoạn 1860 – 1864, Thái binh Thiên quốc đấu tranh chống Mãn Thanh cấu kết với xâm lược nước ngoài, nhưng thất bại. Từ 1860, quân Thái binh cố gắng mở cuộc tiến quân lên phía bắc (“Bắc chinh”) để đánh vào sào huyệt của triều đình đập tan uy thế chính trị của Mãn Thanh. Cuộc hành quân sang phía tây (“Tây chinh”) để bảo vệ Nam Kinh, tiêu diệt lực lượng của địa chủ Hán. Cuộc “Đông chinh” được tiến hành nhằm chặn đưởng tiếp tế của Mãn Thanh, cắt nguồn cung cấp, tài nguyên cho Mãn Thanh. Các cuộc hành quân này không đạt được mục tiêu đề ra, song có ảnh hưởng đến phong trào chống Mãn Thanh trong cả nước.

Tháng 2/1862, theo đề nghị của triều đinh, hội nghị các công sứ, chỉ huy quân đội nước ngoài ở Trung Quốc quyết định công khai vũ trang can thiệp, bao vây Nam Kinh và quân Thái bình. Thái binh Thiên quốc tiến hcành cuộc đấu tranh chống lại bộ phận phong kiến cấu kết với bọn thực dân xâm lược. Hồng Tú Toàn tự tử ngày 1/1/1864. Ngày 19/7/1864, quân triều đình chiếm Nam Kinh, tàn sát một lúc hơn trăm nghìn người.

Các nước Châu Á nửa đầu XIX–P16

Cuộc khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc đã thất bại, nhưng 200.000 tàn quân vẫn tiếp tục hoạt động lẻ tẻ ở phía nam.

Theo cương lĩnh này, Thái bình Thiên quốc đã tiến hành các chù trương, chính sách chủ yếu:

-       Ruộng đấttuỳ tốt, xấu chia ra 9 hạng (1 mẫu bang 1/15 ha và 1 mẩu ruộng loại nhiều có giá trị bằng 3 mẫu loại 9). Việc chia ruộng đất căn cứ vào những khẩu nam, nữtừ 16 tuổi trở lên. Các sản phẩm thu được phải nộp vào kho chung (“quốc khố”), khi nào cần chi tiêu cho ma chay, cưới xinlấy ở kho chung. Những người tàn tật hay mấtsức lao động được nhà nước nuôi dưỡng.

-       Thực hiện việc nam nữ bình quyền. Phụ nữ dược chia ruộng đất, được làm quan, tham gia các đơn vị lực lượng vũ trang. Nghiêm cấmviệc mua bán, đánh đập phụ nữ, bỏ tục bó chân phụ nữ.

-       Lúc đầu chủ trương xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp, khống cho tư do buôn hán, song không thể thực hiện được điểu này vì một khi sức sản xuấtdược giải phóng thì thương nghiệp cũng phát triển.

-       Việc buôn bán, hút thuốc phiện bị nghiêm cấm và bị xử phạt rất nặng đến mức từ hình, đối với ai vi phạm.

-       Về tổ chức xã hội, cứ 25 nhà hợp thành một đơn vị hành chính va quAn sự, lấy đơn vị nhà làm tế bào của xã hội. Trên cơ sở đơn vị các nhỏnày xây dựng một hệ thống tổ chức hành chính và quân sự chặt chẽ từ xã tới trung ương.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lich su the gioi can dai

Các nước Châu Á nửa đầu thế kỉ XIX – Phần 15

Trong các cuộc đấu tranh ấy, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc, do Hồng Tú Toàn lãnh đạo, nổ ra ở Quảng Tây – nơi có phong trào nông dân mạnh.

Hồng Tú Toàn (1814 – 1864) là một giáo viên, xuất thấn trong một gia đình nông dân ở Quảng Đông. Chịu ảnh hưởng của đạo Cơ đốc, ông thành lập Hội Thượng đế, viết sách truyền bá giáo lí đạo Cơ đốc, kết hợp với học thuyết cổ đại Trung Quốc về một xã hội chính nghĩa; bình quân, mọi người đều sung sướng.  Đây là một tổ chức khá chặt chẽ, có quy mô lớn hơn hẳn các hội kín trước đây của Trung Quốc.

Qua Hội Thượng đế, Hổng Tú Toàn ngầm kêu gọi mọi người đứng lên lật đổ ách thống trị của Mãn Thanh và được nông dân hưởng ứng nhiệt liệt. Nghĩa quân lập chính quyền theo kiểu phong kiến – Hồng Tú Toàn được tốn làm Thiên Vương; thành lập quân đội – quân Thái bình – có kỉ luật nghiêm. Ngoài nông dân nghèo, tham gia lãnh đạo Hội Thượng đế cởn có những người xuất thân phú nông, như Thạch Đạt Khai và những địa chủ nhỏ. Mùa hè năm 1850, các đội vũ trang của Hội Thượng đế tập trung về Kim Điền. Ngày 1/1/1851, Hổng Tú Toàn ra lệnh khởi nghĩa đánh đổ Mãn Thanh và lấy hiệu là Thái bình Thiên quốc.

Các nước Châu Á nửa đầu XIX–P16

Cuộc khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc trải qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1851 – 1853 là thời kì nghĩa quân nổi dậy đấu tranh, mở đưởng vào Hồ Nam, phát triển lực lượng lên 5-6 vạn quân, rồi tiến vào Vũ Hán, đánh chiếm Nam Kinh (18/3/1853). Lúc bấy giở, quân Thái bình đãlàm chủ một vùng rộng lớn của hơn 10 tỉnh và lấy Nam Kinh làm trung tâm cua nhà nước Thái bình Thiên quốc.

-    ộGiai đoạn 1853 – 1856 là thời kì quân Thái bình mở rông, củng cố vùng đất đã làm chủ, chuẩn bị đem quân lên phía bắc, uy hiếp triều đình Mãn Thanh. Triều đình phong kiếnvội vãđiều quân từ Tây Bắc, Đông Bắc về giữ Bắc Kinh. Song vào cuối giai đoạn này, trong hàng ngũ Thái bình Thiên quốc bắt đầu có sự chia rẽ.

-      Giai đoạn 1856- 1860, nảy sinh những mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo và bắt đầu sự suy yếu của nghĩa quân. Lúc bấy giở, tinh hình Trung Quốc cũng khá phức tạp: ở vùngsông Dương Tử diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thái bình Thiên quốc và Mãn Thanh; ở vùng Quảng Châu và phía bắc, quân Anh và Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, gây ra Cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai (1856 – 1858). Triều đình Mãn Thanh phải cho sứ thần các nước đến Bắc Kinh, mở thêm hải cảng, giảm thuế, cho thương nhân nước ngoài buôn bán ở Trung Quốc. Khôngthỏa mãn với những điều đạt được, quân Anh, Pháp tiếp tục tiến vào kinh đô đốt phá. Triều đinh Mãn Thanh phải kí điều ước Bắc Kinh (24/10/1860), mở thêm cửa biển và bồi thưởng cho Anh, Pháp mỗi nước8 triệu lạng bạc.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lịch sử thế giới cận đại